Thứ tư, 14/11/2018 - 6 giờ20 - SA
Dư địa chí biên phòng Địa lý - Lịch sử Tìm hiểu về tổ chức quân đội nhà Trần trong chiến tranh chống quân Nguyên xâm lược

Tìm hiểu về tổ chức quân đội nhà Trần trong chiến tranh chống quân Nguyên xâm lược

InEmail

Năm 1225, sau khi nhà Lý sụp đổ, Trần Cảnh lên ngôi vua, mở đầu triều đại nhà Trần. Trong lịch sử nước ta, với sự thành lập triều đại nhà Trần, nhà nước phong kiến tập quyền được củng cố mạnh mẽ và phát triển cao độ. Cũng trong thời đại đó, dân tộc ta đã tiến hành một cuộc kháng chiến lâu dàu, gian khổ, trước sau ba lần (lần thứ nhất, năm 1258, lần thứ hai, năm 1285, lần thứ ba, năm 1287), trong 31 năm để chiến thắng quân Nguyên hung bạo:

          Đối tượng tác chiến của Quân đội Nhà Trần

          Đối tượng tác chiến của ta dưới thời Trần là quân Nguyên vô cùng hung bạo. Quân Nguyên là người Thát-đát (Tartares), sống trên các đồng cỏ thuộc nước Cộng hòa nhân dân Mông-cổ ngày nay, từ vùng thượng du sông Hắc-long đến vùng hồ Bai-can. Sau khi đã chinh phục được nhiều bộ lạc ở vùng thảo nguyên này; năm 1206, Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan) lên ngôi hoàng đế, bắt đầu những cuộc xâm lược đại quy mô. Từ Mông-cổ, họ tiến vào Tây-hạ, đánh sang Trung Á, vượt sông Ấn, tiến đến hạ du sông Ti-gơ-rơ (Tigre), xâm chiếm Đông Âu, đánh vào miền Nam nước Nga. Sau đó, con cháu của Thành Cát Tư Hãn xâm lược nước Nga, rồi tiến đánh các nước Đức, Hung, Ba-lan, cho mãi đến nước Ý và cả I-răng nữa. Đó là những cuộc viễn chinh sang phương Tây. Sau này, họ chuyển về phương Đông, đánh chiếm Trung-quốc, Cao-ly (Triều-tiên), đánh Giao-chỉ, Chiêm-thành, rồi vượt biển xuống phương Nam, đến tận Gia-va và các dảo khác của Nam-dương (In-đô-nê-xi-a). Họ đi đến đâu thắng đến đó, mặc dù đã vấp phải cuộc kháng chiến của nhân dân các nước mà họ xâm lược.

          Họ tổ chức những đội kỵ binh hủng mạnh, thiện chiến, vừa cưỡi ngựa giỏi vừa bắn giỏi. Cung nỏ và lưỡi gươm của họ đã khiến cho hàng chục triệu người khiếp sợ. Tổ chức và kỷ luật của họ rất chặt chẽ. Họ có biệt tài về cưới ngựa, giỏi vận động, khí thế lại hùng dũng, xông pha. Những kỵ binh Thát-đát được trang bị cung nỏ, giáo, gươm và cuộn thừng. Khi vượt qua sông ngòi, những trang bị đó được đặt vào một cái bọc bằng da, buộc vào đuôi ngựa kéo nổi trên mặt nước. Sau khi chiếm được Trung Quốc, họ học được cách đúc và dùng một loạt súng châm ngòi của người Trung Quốc; cho nên ngoài cung nỏ, gươm đao, họ còn có hỏa khí trợ chiến, vì vậy mà sức chiến đấu của họ càng tăng lên rất nhiều. Trng chiến đấu, chỉ huy các cấp giám sát chặt chẽ và chỉ huy linh hoạt những chiến binh dưới quyền mình, duy trì một kỷ luật chiến đấu thật nghiêm khắc. Những binh đoàn hành động trên các hướng riêng biệt thường có quân số từ 20.000 đến 50.0000 người, đó là một con số rất lớn so với thời đại đó, nó cũng chứng minh tài cầm quân và dùng binh của họ.

          Về mặt chiến lược - chiến thuật, quân Nguyên áp dụng lối tấn công chớp nhoáng, bất ngờ, vô cùng nguy hiểm. Họ giỏi giấu quân, giữ bí mật, đồng thời lại rất thạo trinh sát, do thám địch tình. Các cuộc hành binh được bảo đảm che chở rất chu đáo.

          Để xâm chiếm một nước nào đó, sau khi đã nắm vững tình hình đối phương, họ tập trung quân đội đầy đủ, sẵn sàng hành động, rồi đưa thư dụ hàng hoặc mượn đường đi qua...; nếu bị cự tuyệt, thì lập tức đoàn kỵ binh thiện chiến, tinh nhuệ, giỏi cơ động của họ nhanh chóng tiến vào phá hủy thành trì, giết hại nhân dân một cách vô cùng tàn bạo.

          Chiến thuật của họ là dùng ưu thế tuyệt đối, hành binh xuất quỷ nhập thần, tới không ai biết rút không ai hay, tấn công ồ ạt, dùng hỏa khí yểm hộ, dùng ngựa phi với tốc độ cao nhất, kết hợp giữa tấn công mãnh liệt ở chính diện với vu hồi bao vây, bắn phá, chém giết, đốt phá bừa bãi, gây nên những thiệt hại nặng nề cho đối phương. Nhiều khi, họ giả vờ thua chạy, dụ đối phương đuổi theo vào ổ phục kích của họ, để tiêu diệt gọn.

          Trước khi xâm lược nước ta, quân đội nhà Nguyên đã từng bách chiến bách thắng, đã có rất nhiều kinh nghiệm tác chiến trên mọi chiến trường, mọi địa hình, đã từng chiến thắng quân đội các nước Âu – Á hùng mạnh nhất đường thời nên họ rất kiêu căng và chủ quan khinh địch.

          Sau khi chiến thắng nhà Tống, quân Nguyên đang lúc sung sức nhất, quân đội của họ được phát triển mạnh mẽ vì được bổ sung bằng người Trung Quốc, được trang bị bằng những hỏa khí mới, cho nên càng hung hăng, nuôi mộng chinh phục nhiều nước khác trong phạm vi thống trị của nhà Nguyên.

          Cuộc tiến đánh nước ta nằm trong đường lối xâm lược đó. Mục đích của họ là chiếm cứ nhằm thủ tiêu nền độc lập tự chủ của dân tộc ta, đặt một chế độ cai trị nô dịch hà khắc để vét người, vét của, dùng nước ta làm bàn đạp, làm kho bổ sung người, làm căn cứ hậu phương để tiến công các nước ở phương Nam. Muốn đạt mục đích đích, trước hết phải đánh tan quân đội ta, một quân đội đã từng được thử thách, rèn luyện trong nhiều cuộc chiến đấu chống bọn phong kiến hùng mạnh của phương Bắc, một quân đội kế thừa những truyền thống chiến thắng vẻ vang ở Bạch-đằng, chiến thắng vẻ vang quân Tống dưới thời Tiền Lê và nhà Lý.

          Nhưng ba lần quân Nguyên xâm lược nước ta cũng là ba lần thất bại nhục nhã, báo hiệu sự suy vong của nhà Nguyên. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của vua tôi nhà Trần, đã đứng dậy vũ trang chống lại kẻ thù xâm lược, ghi lại những chiến công vô cùng vẻ vang của dân tộc ta.

          Tổ chức quân đội Nhà Trần

          Về tổ chức, lực lượng quân đội nhà Trần gồm có cấm quân và quân các lộ, đó là quân chính quy do nhà nước tổ chức. Cấm quân có nhiệm vụ phòng giữ kinh đô, bảo vệ nhà vua và triều đình. Khi chiến tranh xảy ra, hoặc khi đàn áp nhân dân, cấm quân có thể được điều động đến các nơi cần thiết, phối hợp với quân đóng ở các địa phương. Lộ quân, tức là quân ở các lộ (Lộ: đơn vị hành chính dưới thời Trần. Theo “An-nam chí lược” thì dưới thời Trần, có 14 lộ) có nhiệm vụ phòng giữ các địa phương. Ở những địa điểm quan trọng, hiểm yếu, còn tổ chức những đội quân đặc biệt để phòng thủ.

          Ngoài cấm quân và lộ quân, khi chuẩn bị chống quân Nguyên xâm lược lần thứ hai, nhà Trần còn hạ lệnh cho các vương hầu trong tôn thất chiêu mộ binh lính và sắm sửa binh khí. Những đội quân này đều đặt dưới quyền chỉ huy của nhà vua. Nhà sử học Phan huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” chép rằng: “Nhân Tôn, năm 1284 quân Nguyên xâm lược. Vua sai các công hầu và tôn thất đến mộ binh và thống lĩnh binh của mình. Hưng Đạo Vương điều khiển quân các lộ Hải-đông (tức Yên-bang, nay là Quảng-yên), Vân-trà, Ba-điểm (hai nơi này thuộc Hải-dương ngày nay). Các đạo quân họp lại hết thảy. Bọn Hưng Vũ Vương và Hưng Trí Vương cũng đốc xuất 20 vạn quân các xứ Bàng-hà, Na-sầm (“Việt sử thông giám cương mục” chép là Nà-ngạn, sau là huyện Lục-ngạn, Bắc-giang), Trà-hương, Yên-sinh, Long-nhãn (nay là huyện Phương-nhãn, Bắc-giang) đến hội”.

          Về biên chế, từ năm 1267 trở đi định ra quân ngũ, mỗi quân có ba mươi đô, mỗi đô có tám mươi người.

          Trong quân đội có tổ chức bộ binh và kỵ binh. Thủy binh thời Trần đóng một vai trò rất quan trọng. Thủy binh tuyển trong dân thuyền chài, có tài bơi lội khá cao, đã làm nhiều người ngoại quốc phải khâm phục, chiến thuyền tổ chức thành các thủy đội.

          Chiến thắng oanh liệt ở Vân-đồn (đảo Vân-hải ngày nay) và ở Bạch-đằng đều do thủy binh quyết định một phần lớn. Vân-đồn là một căn cứ hải quân rất quan trọng, có một đội quân đặc biệt đóng giữ, gọi là Bình hải quân.

          Về chế độ tuyển mộ, nhà Trần áp dụng chính sách “ngụ binh ư nông”, nghĩa là lúc bình thì làm ruộng, lúc cần thì gọi nhập ngũ; thời bình tuyển theo yêu cầu, thời chiến thuyển theo số hộ khẩu, gọi tất cả đinh tráng ra lính. Phan huy Chú chép: “Trần Thái Tôn, năm 1239 chọn đinh tráng làm binh, định làm 3 bậc thượng, trung, hạ. Năm 1241, chọn người có sức khỏe, biết võ nghệ sung làm quân thượng đô túc vệ…

          Thánh Tôn, năm 1261 tuyển đinh tráng các lộ làm binh, số còn thừa cho sung làm sắc dịch ở các sảnh viện cục và các đội tuyển phong ở các phủ lộ huyện”. (“Lịch triều chiến chương loại chí”, tập IV, Binh chế chí, trang 16). Chế độ tuyển binh này là một ưu điểm lớn thời đó: cho nên “Các quân cấm vệ và các lộ, đại ước không đầy 10 vạn, năm 1281, điều động được số quân nhiều như thế là vì trong lúc có việc cứ chiểu số lấy hết những đinh trạng”… (sách dẫn trên, trang 5) và “Đại để lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận tiện, khi có nạn thì hết sức chống cự. Thế là thời Trần nhân dân ai cũng là binh nên, mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh”.

          Về trang bị có: cung nỏ, xe xung trận, mìn, thủy lôi, hỏa mù; các loại binh khí kỹ thuật để công thành như: móc sắt, câu liêm, cầu vượt hào, phao bơi cá nhân làm bằng da dê khung gỗ, cầu phao, các loại thang; các binh khí hòa công như: tên lửa, thạch lựu, xe khói lửa…

          Quân đội nhà Trần có trình độ kỹ thuật chiến đấu khá cao. Việc luyện quân làm rất tích cực. Các chiến binh đều thông thạo sử dụng binh khí có trong tay: các đơn vị đều luyện tập ban đêm và trên các loại địa hình khác nhau, nhất là ở vùng sông ngòi. Trong những năm chuẩn bị kháng chiến, đã có những cuộc diễn tập lớn, như cuộc thao diễn thủy bộ năm 1283 và cuộc đại duyệt binh năm 1284.

          Vấn đề kỷ luật cũng được chú ý nhiều. Trong quân lễ có nêu lên nhiều vấn đề về kỷ luật nghiêm minh; trong chiến đấu phải giữ vững đội ngũ, trong mọi tình huống yêu cầu phải có tinh thần yểm hộ, cứu ứng lẫn nhau, tướng phải có uy tín, thưởng phạt nhiêm minh, quân nghiêm hiệu lệnh…

          Chỉ huy quân đội, từ cấp quân trở lên đều là người tôn thất họ Trần. Các chức quan võ quan có đô nguyên súy, phó nguyên súy, tiết độ sứ, phó tiết độ, đại tướng quân, phó tướng quân, cao hơn nữa là phiêu kỵ thượng tướng quân. Chỉ huy ở các địa phương có kinh lược, phòng ngự, sát thủ ngự.

          Các tướng chỉ huy tôn thất đều phải qua học tập quân sự ở giảng võ đường. Trần quốc Tuấn đã soạn ra bộ “Binh thư yếu lược” để huấn luyện cho tướng sĩ. Học tập binh pháp là nhiệm vụ bắt buộc cho mọi tướng sĩ. Bộ “Binh thư yếu lược” này gồm 33 mục, là một bộ binh pháp rất có giá trị, nói nhiều về kinh nghiệm, những quy luật về tổ chức và thực hành các phương thức tác chiến trên các loại địa hình.

          Trong cuộc hội quân lớn năm 1284 ở Vạn-kiếp để chuẩn bị chống quân Ngyên, có đến 20 vạn quân dưới quyền thống lĩnh của Trần quốc Tuấn. Đó là một quân đội có tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh và có sức chiến đấu mạnh mẽ, tuy số lượng không phải lớn lắm, nhất là so với quân Nguyên. Trần quốc Tuấn đã nói: “Quân số cốt phải tinh nhuệ, không cần nhiều, cứ xem như Bồ Kiên có hàng trăm vạn quân cũng không làm gì được” (Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 5, trang 52a).

          Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thắng lợi chủ yếu do ý chí chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước của toàn dân, toàn quân, nhưng tổ chức quân đội mạnh mẽ thời Trần cũng đóng góp một phần rất quan trọng.

                                                TL(Sưu tầm)

 

Bình luận

Security code
Hình khác

DỰ BÁO THỜI TIẾT

Một số thành phố
Nguồn: Trung tâm KTTVTW

Hà Nội Trời chuyển lạnh (17-29 độ)
Huế Mây thay đổi, ngày đêm có mưa (25-33độ)
Đà Nẵng Nắng nắng có mưa nhỏ (24-36độ)
TPHCM Mây thay đổi, đêm có mưa dào (23-33độ)
GIÁ VÀNG
Cập nhật 08 giờ hàng ngày
Nguồn: Sacombank-SBJ
    Mua vào   Bán ra
SBJ
36,620 36,850
SJC
36,650 36,660