Thứ ba, 23/09/2014 - 3 giờ15 - SA
Thông tin-Tư liệu Nghiên cứu - Trao đổi Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước đối với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước đối với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia

InEmail

Nước Việt Nam có đường biên giới đất liền dài trên 4.500 km và tuyến bờ biển dài gần 3.300km. Từ xa xưa, ông cha ta đã xác định vùng biên giới là "phên dậu" của Tổ quốc, có quan hệ đến sự tồn vong, phát triển của đất nước, của dân tộc trong suốt quá trình lịch sử.

alt 

Ảnh - Kiểm tra cột mốc biên giới

1. Tầm quan trọng của việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,  quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ  chủ quyền, an ninh biên giới

Kế thừa những truyền thống quý báu đó, trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt coi trọng vị trí trọng yếu chiến lược của các vùng biên giới. Ngay trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946, đã xác định: "Nhiệm vụ của dân tộc trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ". Cũng trong thời kỳ này, Đảng và Nhà nước ta đã sớm quan tâm tổ chức lực lượng đánh địch ngay từ biên giới, đồng thời chăm lo xây dựng cơ sở cách mạng ở các vùng dân tộc trên biên giới, tổ chức các đơn vị công tác, các đội vũ trang tuyên truyền để chống phỉ, gián điệp biệt kích, bảo vệ các căn cứ kháng chiến.

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, giải phóng miền Nam, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm ngay đến nhiệm vụ bảo vệ  chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, tổ chức các đơn vị quân đội, công an bảo vệ biên giới, biển đảo, giới tuyến tạm thời.

Đến năm 1958, thực tiễn cách mạng nước ta cho thấy vấn đề quản lý và bảo vệ  chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia là cực kỳ quan trọng, là nhiệm vụ toàn diện cả trước mắt và lâu dài nên phải có chủ trương, chính sách để xây dựng cơ sở chính trị, phát triển toàn diện ở các vùng biên giới. Do vậy, Đảng có Nghị quyết số 58/NQ-TW "Về việc xây dựng lực lượng cảnh vệ nội địa và biên phòng". Thực hiện Nghị quyết 58 của Bộ Chính trị, ngày 03/3/1959, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 100/TTg "Về việc thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang" chuyên trách công tác biên phòng và bảo vệ nội địa. Đối với công tác biên phòng, Đảng ta đã sớm xác định: "Là một công tác khó khăn, phải giải quyết nhiều vấn đề thuộc phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, phải giải quyết những vấn đề có liên quan đến đường lối ngoại giao, chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo", do vậy Đảng phải tập trung lãnh đạo một cách chặt chẽ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, gần nửa thế kỷ qua, nhiệm vụ công tác biên phòng luôn giành được những kết quả to lớn; chủ quyền lãnh thổ, an ninh trên các tuyến biên giới thường xuyên được ổn định, đảm bảo; lực lượng Bộ đội Biên phòng từng bước được xây dựng và phát triển vững mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ.

Có thể khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác biên phòng và Bộ đội Biên phòng là vấn đề có tính nguyên tắc. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới phải được đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự quản lý của chính quyền các cấp. Đại hội IX của Đảng đã khẳng định:"Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội nhân dân và công an nhân dân, đối với sự nghiệp quốc phòng- an ninh". Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục xác định phải: "Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia".

2. Thực trạng sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước với nhiệm vụ bảo vệ  chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong thời gian qua

Biên giới có vị trí rất quan trọng, mọi diễn biến xảy ra trên biên giới cũng rất phức tạp, mau lẹ, nhạy cảm về chính trị. Do vậy, công tác quản lý bảo vệ biên giới quốc gia phải đảm bảo tính thống nhất quốc gia, dưới sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Đảng và Nhà nước. Vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước có quy định: những vấn đề xảy ra ở biên giới, biển đảo có quan hệ đến chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia, có quan hệ đến chính sách đối ngoại, ngoại kiều, những vấn đề an ninh, trật tự có quan hệ dân tộc, tôn giáo thì nhất thiết phải do Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho chủ trương chỉ đạo giải quyết.

Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến biên giới, đòi hỏi nhiệm vụ bảo vệ  chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới nước ta có bước phát triển mới, lực lượng làm nhiệm vụ đó cũng phải được xây dựng vững mạnh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Vì vậy, Đảng ta xác định phải thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước với công tác này. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) chỉ rõ: "Tổ chức tốt việc bảo vệ chủ quyền và giữ vững an ninh các tuyến biên giới, vùng trời, vùng biển và hải đảo, xây dựng và củng cố Bộ đội Biên phòng vững mạnh". Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định: "Bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN là bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội…".

Trong bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước, trước âm mưu chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với nước ta, một lần nữa, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra quan điểm nhận thức mới toàn diện đối với nhiệm vụ quốc phòng- an ninh nói chung, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới nói riêng. Nghị quyết chỉ rõ: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN…”.

Đó là những định hướng vừa có tính cấp bách trước mắt, vừa có tính cơ bản, lâu dài của Đảng đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Quán triệt và chấp hành Qui định 36 của Bộ Chính trị (khoá VIII) và Qui định 74 của Bộ Chính trị (khoá IX) về tổ chức Đảng uỷ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, trong đó Bộ Chính trị đã xác định: Đảng uỷ Quân sự Trung ương thống nhất lãnh đạo toàn diện công tác biên phòng và xây dựng Bộ đội Biên phòng; các tỉnh, thành uỷ nơi có Bộ đội Biên phòng lãnh đạo trực tiếp Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành thực hiện nhiệm vụ biên phòng và xây dựng Bộ đội Biên phòng, đồng thời cũng qui định rõ các mối quan hệ giữa Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng với Đảng uỷ các quân khu, các tỉnh, thành uỷ; giữa Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng tỉnh với cấp uỷ địa phương cùng cấp. Thực hiện các qui định trên, trong những năm qua, hệ thống tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng thường xuyên được kiện toàn, củng cố, bảo đảm được sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tập trung thống nhất của Đảng ủy Quân sự  Trung ương, các tỉnh, thành uỷ và Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng đối với Đảng uỷ Biên phòng tỉnh. Những vấn đề nhạy cảm nảy sinh ở biên giới và những vấn đề về tổ chức cán bộ được các tỉnh uỷ, thành uỷ thống nhất với Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng xử lý, giải quyết đúng quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với thực tiễn của từng địa phương. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc nhiệm vụ biên phòng, đặc điểm hoạt động của lực lượng và chấp hành nghiêm túc sự chỉ đạo của Đảng uỷ Quân sự Trung ương, các cấp uỷ đảng trong Bộ đội Biên phòng đã thường xuyên chăm lo xây dựng củng cố tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng vừa tham mưu cho Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng những chủ trương, biện pháp tiến hành công tác biên phòng, xây dựng lực lượng Biên phòng, đồng thời lãnh đạo thực hiện có hiệu quả công tác biên phòng và xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng trên cả nước. Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng tỉnh vừa làm tham mưu cho tỉnh uỷ, vừa lãnh đạo toàn diện các đơn vị cơ sở hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, Đảng uỷ Quân sự Trung ương đã có nhiều chủ trương, giải pháp tập trung xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Bộ Quốc phòng đã tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật, vũ khí, khí tài để Bộ đội Biên phòng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ như: đầu tư xây dựng các công trình quốc phòng, xây dựng cơ bản cho các đồn, trạm biên phòng… Do vậy, những năm qua, lực lượng Bộ đội Biên phòng từng bước được xây dựng vững mạnh toàn diện theo hướng: cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Cùng với việc tăng cường lãnh đạo của Trung ương Đảng đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, những năm qua, các cấp uỷ Đảng ở các địa phương cũng rất coi trọng nhiệm vụ công tác biên phòng và xây dựng lực lượng Biên phòng. Trong Điều lệ Đảng qui định cụ thể và thường vụ tỉnh uỷ các tỉnh đã phân công đồng chí Phó Bí thư Tỉnh uỷ-Chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp phụ trách và sinh hoạt tại Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng tỉnh; nhiều tỉnh đã cơ cấu một đồng chí lãnh đạo Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng tỉnh tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Tỉnh uỷ các tỉnh đã ký quy chế phối hợp với Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng; Đảng uỷ Biên phòng các tỉnh đã có quy chế phối hợp với huyện uỷ các huyện biên giới để tăng cường, thống nhất sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới và xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng ở các tỉnh, thành. Bên cạnh đó, tỉnh uỷ các tỉnh đã có nhiều chủ trương tập trung chỉ đạo công tác biên phòng, xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội ở khu vực biên giới; công tác đối ngoại, giải quyết các vấn đề về biên giới… do đó, đã tạo nhiều thuận lợi trong tổ chức triển khai công tác quản lý, bảo vệ biên giới, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, làm cho bộ mặt ở khu vực biên giới từng bước được phát triển, an ninh- quốc phòng ổn định, đảm bảo.

Đồng thời với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đã tăng cường quản lý biên giới, lãnh thổ, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong điều kiện, hoàn cảnh mới.

Do yêu cầu của nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, những năm qua, Nhà nước ta đã từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, bảo vệ biên giới. Quyết định 16/HĐBT ngày 22/02/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)  về thực hiện “Ngày Biên phòng” vào 03/3 hàng năm, đã tạo ra ngày hội của toàn dân tham gia bảo vệ biên giới. Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (khoá IX) thông qua ngày 28/8/1997; Nghị định 34/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/8/2000 về quy chế khu vực biên giới đất liền; Luật Biên giới quốc gia được Quốc hội (khoá XI) thông qua ngày 17/6/2003, Nghị định 161/2003/NĐ- CP ngày 18- 12- 2003 về quy chế khu vực biên giới biển đã phát huy được trách nhiệm của các cấp, các ngành và mọi thành viên trong xã hội tham gia xây dựng và bảo vệ biên giới.

Thực hiện nghị quyết, quyết định của Đảng và Chínhphủ, những năm qua, Bộ Quốc phòng đã thực hiện tốt chức năng chủ trì trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia theo nhiệm vụ, quyền hạn được Nhà nước giao và trực tiếp chỉ huy, quản lý toàn diện Bộ đội Biên phòng. Bộ Quốc phòng đã chủ trì phối hợp với các bộ, ngành có liên quan ban hành các qui chế để chỉ đạo, hướng dẫn Bộ đội Biên phòng thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Được Bộ Quốc phòng uỷ quyền, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và Bộ Chỉ huy Biên phòng các tỉnh đã cùng với các bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương ký kết các chương trình phối hợp, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới và phát triển kinh tế-xã hội ở xã, phường, thị trấn biên giới. Cụ thể là: qui chế phối hợp với các quân khu; qui chế phối hợp giữa lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý tại địa bàn biên giới, cửa khẩu, trên biển; Qui chế phối hợp hoạt động giữa Cảnh sát biển với các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam; Qui chế phối hợp giữa Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam và Bộ đội Biên phòng về công tác bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí và bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, vùng biển của Tổ quốc; Qui chế phối hợp hoạt động giữa Hải quan và Bộ đội Biên phòng. Ngoài ra, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng còn ký kết qui chế phối hợp với các bộ, ngành như: Giáo dục-Đào tạo, Thông tin-Truyền thông, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Uỷ ban Dân tộc… Trên cơ sở đó, Bộ Chỉ huy Biên phòng các tỉnh đã tổ chức ký kết qui chế phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành với các lực lượng, các ngành ở địa phương.

Có thể khẳng định, việc xây dựng qui chế phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với ngành, các lực lượng đã phân định rõ được phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cấp, từng ngành, của các lực lượng đứng chân ở biên giới; đã phát huy tốt được hiệu quả, huy động được sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ  chủ quyền, an ninh biên giới, vùng biển của Tổ quốc. Vì vậy, trước những vấn đề phức tạp xảy ra trên biên giới đất liền, vùng biển, theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Bộ đội Biên phòng đã phối hợp với các ngành, các lực lượng và tham mưu cho Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng và Nhà nước chỉ đạo giải quyết đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và luật pháp quốc tế, góp phần giữ vững kỷ cương phép nước, phục vụ tốt yêu cầu mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng.

Cụ thể hoá các chính sách của Nhà nước, cấp uỷ, chính quyền địa phương các cấp đã có những quy định, chỉ đạo cụ thể, tập trung xây dựng vùng biên giới vững mạnh toàn diện. Trên các tuyến biên giới, nhiều dự án phát triển kinh tế-xã hội được triển khai và phát huy hiệu quả tốt; việc mở và duy trì các cặp cửa khẩu và khu kinh tế cửa khẩu, đã tạo ra lưu thông toàn diện với các nước láng giềng; nhiều tỉnh, thành đã triển khai và thực hiện tốt phong trào "Quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc và giữ gìn an ninh, trật tự xóm (bản) khu vực biên giới" được chính quyền địa phương các cấp trực tiếp chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Hệ thống đường tuần tra biên giới được triển khai trên toàn tuyến, các cụm dân cư đã và đang được bố trí một cách hợp lý, tạo thế trận liên hoàn, gắn chặt nhiệm vụ phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng- an ninh trên biên giới.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả to lớn đã đạt được, công tác lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ  chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình hiện nay còn một số vấn đề cần quan tâm đó là:

- Mặc dù Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm tăng cường sự lãnh đạo, quản lý đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, nhưng chưa có một chiến lược toàn diện, lâu dài, ổn định đối với công tác Biên phòng và xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng. Việc triển khai các dự án phát triển kinh tế-xã hội ở khu vực biên giới còn mang tính rời rạc, chắp vá, độc lập, chưa nằm trong tổng thể chiến lược kinh tế, an ninh- quốc phòng. Lực lượng Bộ đội Biên phòng chưa có tính ổn định cao, nên trong suốt thời gian dài của những năm qua luôn bị tác động ảnh hưởng tới tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ.

 Công tác biên phòng được xác định là rất quan trọng, song chưa có quy định- cơ cấu để Bộ đội Biên phòng được tham gia vào các chức vụ lãnh đạo của Ban chấp hành đảng bộ các cấp.

- Bộ đội Biên phòng có chức năng tham gia quản lý nhà nước bằng pháp luật ở biên giới. Các văn bản pháp luật đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ đội Biên phòng khi tham gia các hoạt động tố tụng hình sự. Song, thực tế hiện nay có điều bất cập là: Bộ đội Biên phòng không được tiến hành khởi tố các vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản. Trong khi đó, loại tội phạm này xảy ra rất phổ biến ở địa bàn biên giới. Do đó, hiệu quả đấu tranh với loại đối tượng này trên biên giới của Bộ đội Biên phòng còn hạn chế.

3. Một số giải pháp để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong giai đoạn mới

Một là, trong thời kỳ mới, tăng cường quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia bảo đảm tính vững chắc, toàn diện, ổn định là yêu cầu cấp bách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, đặt ra yêu cầu Đảng phải có nghị quyết toàn diện về công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia để thống nhất về nhận thức và hành động của toàn dân và của cả hệ thống chính trị đối với nhiệm vụ này. Nhà nước, các bộ, ngành liên quan cũng có kế hoạch chiến lược, chương trình quốc gia toàn diện về nhiệm vụ bảo vệ biên giới. Trên cơ sở đó, việc quy hoạch, đầu tư các dự án, công trình về kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh… trên địa bàn biên giới mới đảm bảo tính đồng bộ, bền vững và ổn định lâu dài.

Hai là, về tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng, tiếp tục thực hiện theo quy định 74-QĐ/TW ngày 7/5/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Tuy nhiên, trong cơ cấu thành phần của cơ quan lãnh đạo của Đảng ở một số cấp cũng cần nghiên cứu để bổ sung có thành phần tham gia của Bộ đội Biên phòng.

Như các đồng chí đều biết, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới rất toàn diện cả về quốc phòng-an ninh và đối ngoại; diễn biến trên biên giới hết sức phức tạp, mau lẹ, đòi hỏi sự lãnh đạo kịp thời, chính xác của các cấp uỷ đảng đối với nhiệm vụ này. Do vậy, nên có quy định cụ thể, đảm bảo cho lực lượng Bộ đội Biên phòng được tham gia vào Ban Chấp hành và Ban Thường vụ cấp uỷ đảng các cấp. Cụ thể:

-  cấp Bộ Tư lệnh Biên phòng, nên quy định có đồng chí lãnh đạo được tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

- Đối với các tỉnh (thành) có biên giới, nên có quy định cụ thể Đảng uỷ Biên phòng tỉnh có đồng chí tham gia vào Ban Chấp hành và Ban thường vụ tỉnh, thành uỷ (cơ cấu cứng).

Ba là, tiếp tục bổ sung hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới. Quy định cụ thể những hành vi vi phạm và chế tài xử lý đối với những vi phạm pháp luật về biên giới, vùng biển, để đảm bảo tính nghiêm minh và bất khả xâm phạm biên giới lãnh thổ. Điều chỉnh, bổ sung quyền hạn tố tụng của Bộ đội Biên phòng, được khởi tố các vụ án với các tội danh thường xảy ra trên biên giới như: trộm cắp tài sản, khai thác lâm thổ sản trái phép… có như vậy, mới tạo điều kiện để Bộ đội Biên phòng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ an ninh trên địa bàn biên giới, đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Bốn là, Nhà nước cần tăng cường tập trung đầu tư xây dựng, củng cố lực lượng Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, chủ trì trong nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Cụ thể là: cần ổn định lâu dài tổ chức Bộ đội Biên phòng theo Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị và Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng. Tăng cường quân số cho các đồn, trạm Biên phòng. Tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, vũ khí, khí tài, phương tiện và xây dựng cơ bản các đồn, trạm Biên phòng. Có chính sách ưu tiên đối với số cán bộ Bộ đội Biên phòng quê ở các tỉnh miền xuôi lên công tác và ổn định gia đình ở khu vực biên giới.

Biên giới quốc gia là thống nhất, vì vậy quản lý bảo vệ biên giới quốc gia cũng phải do một lực lượng chuyên trách thống nhất đảm nhiệm. Hiện nay, việc bảo vệ biên giới trên biển do cả hai lực lượng: Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển thực hiện. Mặc dù, hai lực lượng đã có quy chế phối hợp, song việc tuần tra, xử lý các vụ việc trên biển về trực thuộc Bộ đội Biên phòng để các hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc được đảm bảo chỉ huy, chỉ đạo thống nhất, thông suốt, kịp thời.

Năm là, Nhà nước cần tiếp tục và tập trung xây dựng hệ thống chính sách ưu tiên, ưu đãi về kinh tế-xã hội đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, vùng biên giới. Chủ động nâng cấp, mở thêm các cặp cửa khẩu và khu kinh tế cửa khẩu nhằm thúc đẩy giao lưu kinh tế với nước láng giềng.

Khẩn trương quy hoạch các cụm dân cư ở biên giới, có chính sách tốt hơn  nhằm ưu đãi để thu hút dân định canh, định cư ra sát biên giới, vừa thúc đẩy kinh tế phát triển, vừa tạo thế trận Biên phòng toàn dân bảo vệ biên giới. Trước mắt, cần tập trung giải quyết việc quy hoạch các xóm (bản) biên giới có diện tích đất ở, đất canh tác sau khi phân giới cắm mốc.   

Hoàng Văn Đồng

 

 

Bình luận

Security code
Hình khác

Bảng quảng cáo

DỰ BÁO THỜI TIẾT

Một số thành phố
Nguồn: Trung tâm KTTVTW

Hà Nội Trời nhiều mây, có mưa vài nơi, Trời oi nóng(28 - 38độ)
Huế Trời nắng (23-29độ)
Đà Nẵng Nắng nắng có mưa nhỏ (24-31độ)
TPHCM   Trời nắng, có mưa rào vài nơi (32-33độ)
GIÁ VÀNG
Cập nhật 08 giờ hàng ngày
Nguồn: Sacombank-SBJ
    Mua vào   Bán ra
SBJ
35,200 35,450
SJC
35,150 35,360